Bản in     Gởi bài viết  
Bản tin phục vụ lãnh đạo ngày 17-7-2020 
Tải file tại đây

CHÍNH SÁCH MỚI 1

1.                Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 3/8. 1

KINH TẾ - ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP. 2

2.                Kinh tế Việt Nam sẽ nhanh chóng khôi phục về mức trước khủng hoảng COVID-19. 2

3.                Việt Nam nằm trong số 3 quốc gia tăng trưởng dệt may lớn nhất trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung. 3

4.                Doanh nghiệp nhỏ và cú sốc Covid. 3

PHÂN TÍCH -BÌNH LUẬN.. 5

5.                Bộ trưởng Nhạ đã hứa: Không lạm thu, không khai giảng sớm.. 5

QUẢN LÝ.. 6

6.                Sẽ tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất đến hết 12-2020. 6

7.                Phó Chủ tịch Quốc hội phê bình Bộ Nội vụ về việc cử cán bộ dự họp. 6

8.                Hỗ trợ giáo viên tư thục bị ảnh hưởng dịch COVID 1,8 triệu đồng/tháng. 8

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH.. 9

9.                Dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước sẽ sớm “phủ sóng” trên cả nước. 9

10.             Vĩnh Phúc quyết tâm cải thiện chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. 11

11.             Thanh Hóa đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử. 12

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH.. 13

12.             Tiền lương năm 2021 có giảm theo mức thắt chặt ngân sách?. 13

13.             Sẽ có chế tài đối với cán bộ chậm thực hiện giải ngân vốn đầu tư công. 14

14.             Không sử dụng hạn mức bảo lãnh Chính phủ trong 6 tháng đầu năm 2020. 15

SAI PHẠM ĐIỂN HÌNH.. 16

15.             Khởi tố vụ án liên quan đến lái xe riêng của Chủ tịch UBND Hà Nội 16

16.             Phó giám đốc văn phòng đăng ký đất đai bị bắt 16

THẾ GIỚI 17

17.             Thái Lan cải cách thủ tục gia hạn giấy phép lao động cho người nước ngoài 17

18.             Quan chức Anh bị phát hiện đã đánh mất hàng trăm thiết bị điện tử mỗi năm

CHÍNH SÁCH MỚI

Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 3/8

Nghị quyết 116 về việc giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm nay cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có hiệu lực từ ngày 3/8/2020.

 Mới đây, Văn phòng Quốc hội vừa có văn bản gửi các cơ quan báo chí về việc công bố 8 Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV, trong đó có Nghị quyết 116 về việc giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm nay cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 Các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và các doanh nghiệp vừa có doanh thu không quá 200 tỷ đồng/năm sẽ được hưởng ưu đãi này.

 Nghị quyết trên sẽ có hiệu lực từ ngày 3/8 tới đây và áp dụng cho kỳ tính thuế 2020. Dự kiến, với việc giảm thuế nêu trên, số thu ngân sách năm nay sẽ giảm khoảng 23.000 tỷ đồng.

 Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp 30% đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ không phải đóng số thuế này để dành nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.

 Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp là động thái tiếp theo của Đảng và Nhà nước nhằm hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Trước đó, nhiều biện pháp hỗ trợ khác đã được triển khai như: hoãn giãn nộp thuế, hỗ trợ lãi suất ngân hàng… (VTV.vn 16/7)Về đầu trang

KINH TẾ - ĐẦU TƯ  - HỘI NHẬP

Kinh tế Việt Nam sẽ nhanh chóng khôi phục về mức trước khủng hoảng COVID-19

Theo McKinsey&Company, có hai yếu tố giúp nền kinh tế Việt Nam có thể từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn do đại dịch gây ra.

 Trong báo cáo đăng tải trên trang Consultancy.asia ngày 14/7, công ty tư vấn quản lý toàn cầu McKinsey&Company nhận định, mặc dù đại dịch COVID-19 làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, nhưng vào năm tới, quốc gia Đông Nam Á này có thể sớm khôi phục mức tăng trưởng như trước thời kỳ khủng hoảng dịch bệnh.

 McKinsey&Company nhận định, có hai yếu tố giúp nền kinh tế Việt Nam có thể từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn do đại dịch gây ra. Yếu tố đầu tiên là Việt Nam đã kiểm soát thành công dịch bệnh với không có ca lây nhiễm mới trong cộng đồng trong 2 tháng qua. Việt Nam là quốc gia đầu tiên mở cửa trở lại nền kinh tế sau 3 tuần đóng cửa nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19.

 Yếu tố thứ hai liên quan tới thị trường tiêu dùng ở Việt Nam. Chi tiêu của tầng lớp trung lưu gia tăng dẫn đến sự bùng nổ trên thị trường tiêu dùng quốc gia. Hiện chi tiêu trong nước chiếm gần 70% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Mặc dù trong tháng 4/2020, hơn một nửa người tiêu dùng Việt Nam đã cắt giảm chi tiêu, song sự cắt giảm chi tiêu này thuộc về phần chi phí tùy ý, vốn chỉ chiếm hơn 25% GDP. Trong khi đó, chi tiêu cho nhu yếu phẩm vốn đóng góp hơn 40% GDP Việt Nam vẫn giữ vững trong suốt đợt khủng hoảng COVID-19 và dự kiến sẽ tiếp tục duy trì ổn định trong thời gian tới.

 Báo cáo của McKinsey&Company nhấn mạnh hai yếu tố trên đã giúp Việt Nam có thể từng bước vượt qua khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng dịch COVID-19 vẫn tiếp tục tác động tới kinh tế trong nước như chuỗi cung ứng trên toàn cầu mất cân bằng, xuất khẩu của Việt Nam bị ảnh hưởng do Trung Quốc cũng như các thị trường chủ chốt khác đều đóng cửa, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam giảm 21% trong ba tháng đầu năm 2020. 

Theo McKinsey&Company, Việt Nam có thể hoàn toàn khôi phục tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ khi thương mại quốc tế tăng tốc. Tuy nhiên, công ty cũng chỉ ra nhiều yếu tố đã giúp ổn định nền kinh tế Việt Nam trong suốt cuộc khủng hoảng lần này. Tăng trưởng GDP quý I/2020 của Việt Nam đạt gần 4%, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2011. Nhưng so với nhiều nền kinh tế khác, đây vẫn là mức tăng trưởng đầy hứa hẹn. Hơn nữa, khi nền kinh tế toàn cầu mở cửa, thị trường Việt Nam sẽ có vị thế tốt hơn trước.

 McKinsey&Company nhấn mạnh, các dự báo cho thấy hầu hết các nền kinh tế trên thế giới sẽ dần hoạt động trở lại vào cuối năm nay. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh sẽ diễn ra chủ yếu vào giữa năm 2021. Theo các chuyên gia, Việt Nam sẽ có rất nhiều tiềm năng để phát triển và đẩy mạnh kinh tế trong giai đoạn này với điều kiện đại dịch COVID-19 không bùng phát trở lại. Trên thực tế, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đều dự đoán Việt Nam có thể đạt tốc độ tăng trưởng lên tới 7% vào năm 2021. (VTV.vn 15/7)Về đầu trang

Việt Nam nằm trong số 3 quốc gia tăng trưởng dệt may lớn nhất trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung

Theo báo cáo ngày 13/7 từ Fitch Solutions, Việt Nam, Myanmar và Campuchia là những quốc gia khu vực châu Á được hưởng lợi nhất từ sự dịch chuyển cơ cấu ngành dệt may.

 Báo cáo chỉ ra rằng, Trung Quốc cắt giảm các hoạt động sản xuất trong ngành dệt may và đẩy mạnh những chuỗi giá trị khác là cơ hội cho các nước láng giềng có tiềm năng tăng trưởng trong lĩnh vực này. Thêm vào đó, các quốc gia này có đặc điểm chung như đều là những nước đang phát triển, dân số đông và chi phí sử dụng lao động thấp.

 Tương tự như Bangladesh, 3 quốc gia này (Việt Nam, Myanmar, Campuchia) có khả năng thay thế Trung Quốc để trở thành các nhà cung cấp trong thị trường rộng hơn, đồng thời có cơ hội tăng thị phần ở khu vực Bắc Mỹ và châu Âu.

 Việt Nam nhận được rất nhiều cơ hội từ việc chuyển đổi chuỗi cung ứng sản xuất hàng dệt may cùng với sự tích cực tham gia mạng lưới các Hiệp định thương mại tự do.

 Theo ước tính của Fitch Solutions, trong cuộc chiến thương mại giữa hai nước Hoa Kỳ và Trung Quốc, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đã tăng lên 30%, thị phần xuất khẩu hàng may mặc toàn cầu tăng từ 6,8% năm 2018 lên đến 8,7% vào năm 2019.

 Thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Campuchia chỉ chiếm 1,4% thị trường dệt may toàn cầu. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kép ngành dệt may tại quốc gia này đã đạt 13% trong thập kỷ qua. Campuchia có nhiều thế mạnh để hỗ trợ ngành công nghiệp này như: chí phí lao động tương đối thấp, các chính sách đầu tư thuận lợi, điển hình như chính sách cho phép sở hữu toàn bộ vốn nước ngoài trong lĩnh vực dệt may.

 Campuchia cũng có thêm lợi thế trong việc sử dụng các cảng của Việt Nam để vận chuyển và nhập khẩu nguyên liệu thô từ Trung Quốc.

 Tại Myanmar, phần lớn các sản phẩm dệt may là hàng bình dân có giá trị và chất lượng thấp. Quốc gia này dự kiến cũng sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong ngành công nghiệp dệt may nhờ vào nhiều cảng biển. Đây là điều kiện thuận lợi cho Myanmar trong việc vận chuyển hàng hoá với chi phí thấp nhất trong khu vực. (Cafef.vn 16/7)Về đầu trang

Doanh nghiệp nhỏ và cú sốc Covid

Khi đại dịch Covid-19 ập đến, những doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ khó khăn bội phần, bên bờ vực của sự sống và cái chết. Đây là điều dễ dàng nhận thấy khi phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo dữ liệu của Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2020 do Tổng cục Thống kê công bố cuối tháng 4 vừa qua.

 Cụ thể, xét theo quy mô, số lượng doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến năm 2018 chiếm 93% tổng số doanh nghiệp. Tỷ lệ này bình quân giai đoạn 2011 - 2015 và 2015 - 2018 không thay đổi. Chỉ có điều, doanh nghiệp siêu nhỏ tăng thêm 3 điểm phần trăm, từ 60% bình quân giai đoạn 2011 - 2015 lên 63% bình quân giai đoạn 2016 - 2018; trong khi số doanh nghiệp nhỏ giảm 3 điểm phần trăm từ 33% xuống 30%.

 Tuy doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chiếm 93% tổng số doanh nghiệp nhưng vốn chỉ chiếm khoảng 22% trong tổng số vốn của doanh nghiệp và tỷ lệ này hầu như không thay đổi đáng kể trong cả giai đoạn 2011 - 2018. Dữ liệu phần nào cho thấy doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ luôn gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận vốn.

 Đặc biệt, tổng lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ trong cả giai đoạn 2011 - 2018 luôn âm.

 Từ đây có thể rút ra một số nhận định. Đầu tiên, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ là những doanh nghiệp rất khó khăn, luôn kề cận bên bờ vực giải thể hoặc phá sản kể cả khi không có đại dịch. Trong đại dịch, họ càng khốn khó hơn, dễ rơi vào “cửa tử” hơn và chính sách hỗ trợ như giãn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với 93% doanh nghiệp loại này là không có ý nghĩa.

 Bên cạnh đó, các doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ thường cũng khó tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng do kết quả sản xuất kinh doanh lỗ hoặc lợi nhuận thấp, ngoài ra còn vấn đề về tài sản thế chấp.

 Một vấn đề nữa liên quan đến số liệu thống kê trong điều tra doanh nghiệp, cơ quan thống kê sử dụng báo cáo trước hoặc sau khi cơ quan thuế quyết toán. Thông thường, sau khi quyết toán, cán bộ thuế thường không chấp nhận một số chi phí là hợp lệ. Như vậy, hầu hết doanh nghiệp trong báo cáo bước 1 lợi nhuận trước thuế là âm nhưng sau khi quyết toán lại là dương và doanh nghiệp bị truy thu phần thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh sau quyết toán. Đây có thể là lý do cơ bản tại sao các hộ kinh doanh cá thể không muốn trở thành doanh nghiệp mặc dù “oai” hơn.

 Hậu Covid-19, Chính phủ đã ban hành rất nhiều giải pháp về tài khóa, tiền tệ, đầu tư công để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả một cuộc khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cũng thực hiện trong tháng 4.2020, cho thấy nhóm doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ “dẫn đầu” về tỷ lệ doanh nghiệp không biết đến Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp (12,1%). Doanh nghiệp loại này cũng có tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận được chính sách hỗ trợ thấp nhất (chỉ đạt 2,1%).

 Trên thực tế, không nói ra thì ai cũng biết, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ chịu bất lợi về ưu đãi vốn và đất đai so với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp ngoại đã đành, họ còn là đối tượng dễ bị nhũng nhiễu bởi tham nhũng vặt, dễ bị các đoàn thanh tra đến “thăm hỏi” làm khó.

 Giờ đây, lay lắt trước cú sốc Covid-19, càng lâu được tiếp cận các gói hỗ trợ, sức chống đỡ của doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ càng yếu ớt. Ai sẽ cứu họ? (Daibieunhandan.vn 16/7)Về đầu trang

PHÂN TÍCH -BÌNH LUẬN

Bộ trưởng Nhạ đã hứa: Không lạm thu, không khai giảng sớm

Trước 63 vị giám đốc sở Giáo dục trên toàn quốc, Bộ trưởng Bộ GDĐT Phùng Xuân Nhạ vừa chính thức có những chỉ đạo mà học sinh cả nước có thể yên tâm nghỉ hè, phụ huynh yên tâm túi tiền nếu nó được thực hiện.

 Tuần trước dư luận lên cơn sốc trước bức ảnh học sinh duy nhất không có giấy khen, ngồi với cái dáng thất thểu, bơ vơ, lạc lõng trong một lớp học toàn giấy khen, giơ cao trước ngực.

 Bức ảnh, được đưa lên đúng vào thời điểm được gọi là “ngập giấy khen như tờ rơi quảng cáo” khiến dư luận lập tức nổ ra các cuộc tranh luận. Và, rất nhiều trong số đó, là những chữ “phản cảm”, “phản giáo dục”, thậm chí “làm nhục”.

 Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học Thái Văn Tài sau đó khẳng định: “Bức ảnh nếu có thật thì giáo viên đang làm sai hướng dẫn, sai quan điểm của bộ trong đánh giá học sinh, đó là không được so sánh học sinh này với học sinh khác. Kể cả phê bình, nhắc nhở cũng không phê bình trước lớp mà cần gặp riêng.

 Tại hội nghị với giám đốc các sở Giáo dục toàn quốc hôm 14.7, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cuối cùng cũng có ý kiến. Rằng các địa phương cần chú ý đến việc khen thưởng học sinh cuối năm học. Rằng: Việc đánh giá phải đảm bảo thực chất, vì sự tiến bộ của học sinh. Và bộ trưởng yêu cầu: Tránh lạm dụng giấy khen dẫn đến “tác dụng ngược” trong việc khen thưởng.

  Đúng. Đó là “tác dụng ngược”. Giáo dục không thể là lấy cái kém, cái yếu của một cá nhân để tôn vinh cái giỏi, cái tốt của các cá nhân khác. Bởi đơn giản, giáo dục không thể là làm nhục.

 Khen, cái việc tưởng như dễ nhất, đồng thuận nhất, tác dụng tích cực nhất, hóa ra cũng có nhiều cái chưa có tính giáo dục và cần phải chấn chỉnh, phải giáo dục lại.

 Rất tích cực là trong những chỉ đạo của Bộ trưởng, ngoài vấn đề giấy khen cuối năm, còn có những điều mà người dân chờ đợi. Rằng: Các cơ sở giáo dục không tổ chức tựu trường trước ngày 1.9 và thống nhất toàn quốc tổ chức khai giảng năm học mới vào ngày 5.9... Bộ trưởng kiên quyết là sẽ không để xảy ra tình trạng lạm thu đầu năm, tình trạng thiếu SGK cho năm học mới.

 Đi học sớm, SGK và lạm thu, 3 vấn đề đau đầu nhất của cha mẹ học sinh, 3 tình trạng tồn tại suốt hàng thập kỷ của giáo dục, cuối cùng đã được giải quyết thông suốt bằng một chỉ đạo của Bộ trưởng.

 Dân sẽ coi đó là một lời hứa. Để có thể cùng con cái bước vào một năm học mới với thực sự là niềm vui tựu trường của con trẻ, cả “niềm vui túi tiền” - vốn đã eo hẹp ít nhiều vì đại dịch của cha mẹ. Tất nhiên, nếu nó được thực hiện thật. (Laodong.vn 16/7, Đào Tuấn)Về đầu trang

QUẢN LÝ

Sẽ tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất đến hết 12-2020

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu BHXH Việt Nam xem xét, giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất với đơn vị, người lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 đến hết tháng 12-2020.

 Tại Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 14-7-2020 về phiên họp Chính phủ trực tuyến với các địa phương và phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6-2020, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu BHXH Việt Nam nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí , tử tuất trong thời gian tối đa 12 tháng với đơn vị, người lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, trước mắt là đến hết tháng 12-2020.

 Đồng thời, cần phải tập trung vào một số nội dung khác như: Các tổ chức tín dụng triệt để tiết giảm chi phí hoạt động để giảm lãi suất các khoản vay hiện hữu và các khoản vay mới; đơn giản hóa quy trình, thủ tục, hồ sơ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn vay; Thúc đẩy phát triển mạnh phân khúc nhà ở xã hội để đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân xây dựng nhà ở; Hướng dẫn các địa phương rà soát, hỗ trợ dứt điểm để không còn gia đình có công với cách mạng thuộc diện hộ nghèo, giải quyết căn bản số hồ sơ tồn đọng; Đẩy mạnh quảng bá hình ảnh Việt Nam là điểm đến an toàn, hấp dẫn của thế giới để phục hồi du lịch quốc tế khi điều kiện cho phép…

 Trong thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, không thực hiện thanh tra chuyên ngành đóng, hoặc kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 gây ra nếu doanh nghiệp không có dấu hiệu vi phạm; đồng thời, hàng tháng đôn đốc doanh nghiệp đóng đầy đủ, kịp thời quỹ ốm đau, thai sản, quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, quỹ BHYT và bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

 Sau thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, doanh nghiệp tiếp tục đóng bao gồm cả việc đóng bù quỹ hưu trí và tử tuất của thời gian tạm dừng đóng trước đó.

 Trước đó, thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch covid-19, BHXH Việt Nam đã ban hành Công văn số 860/BHXH-BT gửi BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó, các doanh nghiệp được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đến hết tháng 6-2020. (Nld.com.vn 16/7, H.Lê)Về đầu trang

Phó Chủ tịch Quốc hội phê bình Bộ Nội vụ về việc cử cán bộ dự họp

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đại diện Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê bình Bộ Nội vụ khi chỉ cử lãnh đạo cấp vụ đến tham dự hội nghị.

 Sáng ngày 16/7, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu chủ trì hội nghị triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh các tháng cuối năm 2020 và năm 2021.

 Theo Nghị quyết của Quốc hội, Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi) sẽ được Quốc hội khoá XV (tháng 10/2021) cho ý kiến lần đầu. Chính phủ đã giao Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng dự án luật này. Tại hội nghị, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Nội vụ Vũ Đức Thuận cho biết, ông được Bộ trưởng phân công đi tham dự hội nghị này.

 Báo cáo tiến độ xây dựng luật, theo ông Thuận, Bộ Nội vụ đã nghiêm túc xây dựng dự án Luật Thi đua khen thưởng (sửa đổi) theo đúng trình tự thủ tục của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

 Ông cũng nhấn mạnh, Bộ Nội vụ đang phối hợp Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan hoàn thiện dự thảo luật để đến tháng 4/2021 trình Chính phủ cho ý kiến và để tháng 10/2021, Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu.

 Ngay sau phát biểu của vị đại diện Vụ pháp chế, Phó Chủ tịch Quốc hôi Uông Chu Lưu nói: “Tôi rất tiếc và buồn”. Đây là hội nghị giữa Chính phủ và Uỷ ban thường vụ Quốc hội triển khai nghị quyết của Quốc hội. Thông báo, lịch trình đã gửi từ trước.

 Ông Lưu cũng chia sẻ, khi hôm nay Chính phủ đang có hội nghị trực tuyến rất quan trọng về giải ngân vốn đầu tư công, Thủ tướng đề nghị cử Bộ trưởng Tư pháp Lê Thành Long thay mặt Chính phủ tham dự hội nghị.

 “Có thể có một số Bộ trưởng dự cuộc họp đó, nhưng Thứ trưởng rất nhiều, sao lại vắng, đặc biệt Bộ Nội vụ lại là cơ quan gác cổng của Chính phủ về vấn đề tổ chức, bộ máy, cải cách hành chính. Đồng chí nói Bộ Nội vụ thực hiện rất nghiêm túc quy định của luật nhưng đến bây giờ quy trình thủ tục thế này, ngay thẩm quyền cũng không bảo đảm.

 Tôi đề nghị đồng chí về báo cáo đồng chí Lê Vĩnh Tân ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và tôi đại diện cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê bình”, ông Lưu thẳng thắn.

 Trước đó, tại hội nghị, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh, Bộ Công an luôn xác định, việc xây dựng pháp luật rất quan trọng.

 Tuy nhiên, có 2 dự luật rất quan trọng Bộ đã báo cáo Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và đã cho ý kiến, đặt ra lộ trình thực hiện, nhưng đến hôm nay vẫn chưa thấy có tên.

 Thiết tha đề nghị đưa vào chương trình để làm sớm, theo Bộ trưởng, hiện nay hồ sơ đã cơ bản đủ điều kiện để trình, nhưng không biết vướng thủ tục hành chính ở đâu, ban soạn thảo cứ phải chờ đợi.

 Cụ thể, theo Bộ trưởng Tô Lâm, đó là dự án luật về lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự cơ sở. Dự án này rất quan trọng, triển khai công tác đảm bảo an ninh trật tự cơ sở cùng với lực lượng dân quân tự vệ để thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng.

 Luật Dân quân tự vệ đã được Quốc hội thông qua, nếu không thông qua dự án luật này thì không có sự tương thích, đồng bộ trong lực lượng ở cơ sở. Bộ trưởng đề nghị đưa dự án luật này vào xem xét và cho ý kiến tại kỳ họp thứ 10. 

Dự án thứ hai được Bộ trưởng nhắc đến là Luật Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Trên thực tế vấn đề trật tự ATGT là một bộ phận quan trọng trong trật tự an toàn xã hội, không thể tách rời. Ông thiết tha đề nghị thống nhất báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để trình dự án luật này.

 “Trong tổng kết Luật Giao thông đường bộ cũ, qua 10 năm thực hiện, hàng trăm nghìn người chết vì TNGT, hàng trăm nghìn người bị thương.

 Vấn đề giao thông, ùn tắc, logistic ảnh hưởng cả hoạt động phát triển kinh tế bình thường. Quốc tế cũng nhìn chúng ta về vấn đề an toàn giao thông, để thu hút khách du lịch vào Việt Nam… Chúng ta không để người chết vì TNGT phát triển nhiều như vậy”, Bộ trưởng Tô Lâm cho hay.

 Về việc này, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho biết, tại lần họp Uỷ ban Thường vụ trước đây, Bộ trưởng đã có báo cáo vấn đề này. Khi xem xét dự án luật khác có liên quan, Uỷ ban Thường vụ cũng đề nghị Chính phủ và Bộ Công an phải trình hồ sơ theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

 “Cho đến bây giờ các cơ quan của Quốc hội, Thường vụ Quốc hội chưa nhận được hồ sơ về 2 dự án luật này. Khi Quốc hội thảo luận thông qua chương trình cũng đề nghị nếu có dự án luật này thì phải xem xét đồng thời với Luật Giao thông đường bộ sửa đổi”, ông Lưu nói. (Tienphong.vn 16/7)Về đầu trang

Hỗ trợ giáo viên tư thục bị ảnh hưởng dịch COVID 1,8 triệu đồng/tháng

Bộ LĐ-TB&XH sẽ mở rộng đối tượng nhận hỗ trợ gói 62 nghìn tỷ đồng đối với giáo viên tư thục, đồng thời giảm một loạt các điều kiện về gói vay trả lương lãi suất 0% nhằm khuyến khích các doanh nghiệp hạn chế sa thải người lao động.

 Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2020 về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội sáng 16/7, chia sẻ với Tiền Phong, ông Lê Quân, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (LĐTB&XH) cho biết, sẽ mở rộng đối tượng nhận gói hỗ trợ 62 nghìn tỷ đồng đối với giáo việc tư thục.

 Theo ông Quân, ngay sau khi Thủ tướng đồng ý với đề xuất của Bộ LĐ-TB&XH về việc giảm điều kiện và mở rộng đối tượng trong Nghị quyết 42, chiều 15/7, Bộ LĐ-TB&XH đã có văn bản gửi Bộ Giáo dục và đạo tạo đề nghị cung cấp số liệu về giáo viên tư thục cũng như đánh giá tác động của COVID-19 đối với giáo viên tư thục.

 Theo rà soát, số lượng giáo viên tư thục ở tất cả các cấp bị ảnh hưởng bởi COVID-19 có khoảng 30.000 – 50.000 người. Bộ sẽ bổ sung những đối tượng này vào nhóm  hỗ trợ 1,8 triệu đồng/người/tháng và tùy mức độ ảnh hưởng, giáo viên tư thục có thể được hỗ trợ từ 1 tháng đến tối đa 3 tháng.

 Ông Quân cho biết, qua rà soát, số giáo viên này tập trung phần lớn ở bậc mầm non, bởi trong mấy tháng nghỉ học, các trường hầu như không thu được học phí. Còn ở bậc cao hơn như THCS, THPT, khối CĐ, ĐH hay trường nghề sinh viên nghỉ học không dài nên các trường vẫn có nguồn thu học phí.

 Hội nghị trục tuyến sơ kết 6 tháng đầu năm 2020 ngành Lao động, Thương binh và Xã hôi

Thứ trưởng Lê Quân cũng cho biết thêm, sẽ giảm bớt điều kiện gói vay trả lương lãi suất 0% để các doanh nghiệp tiếp cận với gói vay 16 nghìn tỷ đồng. Theo đó, Bộ chỉ giữ lại tiêu chí về thời gian vay tối đa 3 tháng và mức vay.

 “Còn doanh nghiệp sẽ không cần chứng minh khó khăn tài chính như trước đây. Thời gian ngừng việc của lao động cũng nới rộng ra từ ngày 1/1 đến ngày 31/12, thay vì từ ngày ¼ - 30/6 như trước. Doanh nghiệp không cần phải trả trước 50% lương ngừng việc và giải ngân trực tiếp cho người lao động.”, Thứ trưởng Lê Quân cho hay.

 Với đề xuất này, ông Quân chia biết, Bộ sẽ hướng tới những doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, nhưng vẫn muốn giữ chân người lao động, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp hạn chế sa thải lao động.

 Tuy nhiên, theo ông Quân, những nội dung trên mới chỉ là đề xuất, Bộ sẽ xin thêm ý kiến của các đơn vị như Bộ Tài chính, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nhà nước…Trên cơ sở đó, Bộ LĐ-TB&XH sẽ có tờ trình trình Chính phủ sửa đổi Nghị quyết 42 và Quyết định 15. (Tienphong.vn 16/7, Dương Hưng)Về đầu trang

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước sẽ sớm “phủ sóng” trên cả nước

Với kết quả đạt được tính đến cuối tháng 6/2020 là 84.628/92.456 đơn vị sử dụng ngân sách đã đăng ký tham gia dịch vụ công trực tuyến (DVCTT), đạt tỷ lệ 91,5%, có thể khẳng định hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) sẽ sớm hoàn thành “phủ sóng” DVCTT trước thời hạn dự kiến.

 Việc tăng cường sử dụng DVCTT, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống KBNN thời gian qua.

 Vào thời điểm năm 2019, mục tiêu đặt ra là triển khai DVCTT tại tất cả các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có giao dịch với KBNN cấp tỉnh và KBNN cấp huyện, tuy nhiên, trong những tháng cuối năm 2019, KBNN đề nghị KBNN tỉnh tạm ngưng mở rộng thêm đơn vị giao dịch với KBNN cấp huyện để tập trung đẩy mạnh việc triển khai DVCTT đối với KBNN cấp tỉnh, đảm bảo đạt tỷ lệ 100% theo đúng mục tiêu đề ra. Kết quả, trong năm 2019, 100% thủ tục hành chính KBNN được thực hiện trên DVCTT mức độ 4; 100% các đơn vị sử dụng NSNN có giao dịch với KBNN cấp tỉnh, KBNN quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham gia dịch vụ công mức độ 4. Tại nhiều địa phương, DVCTT đã được tiếp tục mở rộng đến các huyện để đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin trong giao dịch.

 Bước sang năm 2020, KBNN cấp huyện trên cả nước rốt ráo triển khai dịch vụ công trực tuyến theo kế hoạch. Theo báo cáo mới nhất từ KBNN, tính đến thời điểm ngày 30/6, tổng số đơn vị sử dụng ngân sách đã đăng ký tham gia DVCTT là 84.628/92.456 đơn vị, đạt tỷ lệ 91,5%. Như vậy, chỉ còn chưa đến 10% đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước cần phải kết nối với DVCTT của Kho bạc. Thống kê cũng cho thấy, lượng chứng từ chi ngân sách nhà nước qua DVCTT chiếm trên 60% so với lượng chứng từ chi NSNN qua TABMIS (không bao gồm chứng từ chi khối an ninh quốc phòng).

 Tại một số địa phương, việc triển khai nốt các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện giao dịch qua DVCTT về cơ bản đã hoàn thành ngay tại thời điểm thực hiện giãn cách xã hội. Một số KBNN tỉnh như Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh… đã gần như hoàn thành “phủ sóng” DVCTT.

 Trong đó, tại một số KBNN cấp huyện đã hoàn thành việc hỗ trợ tất cả các đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn sử dụng DVCTT.

 Cụ thể, tại Lào Cai, KBNN thị xã Sa Pa là đơn vị đã sớm hoàn thành triển khai DVCTT. Đến thời điểm 31/3, có 80/80 đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn sử dụng DVCTT. Theo bà Nguyễn Ngọc Nga, Giám đốc KBNN Sa Pa, chỉ sau 28 ngày kể từ khi bắt tay vào triển khai DVCTT, đơn vị đã hoàn thành mục tiêu.

 “Ban đầu cũng có nhiều đơn vị e ngại, không muốn thay đổi, nhưng nay, khi thực hiện giao dịch trên dịch vụ công trơn tru mới thấy rõ được lợi ích của nó. Những ngày đầu, ngay cả lãnh đạo kho bạc cũng phải trực tiếp vào cuộc, đến với khách hàng, tháo gỡ khó khăn cho đơn vị”, bà Nguyễn Ngọc Nga chia sẻ.

 Hay như tại KBNN huyện Yên Bình (Yên Bái), từ ngày 1/6, tất cả 116 đơn vị sử dụng ngân sách trong huyện Yên Bình đã tham gia DVCTT với 100% chứng từ được gửi qua dịch vụ này. Theo ông Phạm Tiến Bình, Giám đốc KBNN huyện, Yên Bình là địa bàn trải dài và có rất nhiều xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Yên Bái nên khi bắt đầu triển khai DVCTT cũng khá dè dặt và cẩn trọng, tránh gây áp lực cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Nhưng ngay khi bắt tay vào triển khai, được sự ủng hộ của hầu hết các đơn vị trên địa bàn nên tất cả các chứng từ đều được chuyển qua DVCTT thay vì làm song song 2 phương thức như những địa phương khác.

 Kết quả này cho thấy KBNN sẽ sớm hoàn thành lộ trình triển khai DVCTT cho 100% đơn vị sử dụng ngân sách trong năm 2020, trở thành kho bạc điện tử trong năm nay.

 KBNN cho biết sẽ tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; thực hiện việc giao nhận hồ sơ kiểm soát chi điện tử qua DVCTT. Đây là một trong những giải pháp trọng tâm, lâu dài của KBNN nhằm thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục rút ngắn thời gian kiểm soát chi, tạo thuận lợi hơn cho các chủ đầu tư đối với công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua hệ thống KBNN để tiến tới kiểm soát chi điện tử. (Haiquanonline.com.vn 15/7, Thùy Linh)Về đầu trang

Vĩnh Phúc quyết tâm cải thiện chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

Là một trong 10 chỉ số thành phần đánh giá PCI của tỉnh, năm 2019, chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của Vĩnh Phúc đạt 6,1 điểm, giảm 0,25 điểm so với năm 2018, xếp thứ 36/63 tỉnh, thành phố.

 Theo báo cáo số 201 của Sở Kế hoạch và Đầu tư về kết quả chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2019, Vĩnh Phúc đứng thứ 17/63 tỉnh, thành, tụt 4 bậc PCI so với năm 2018, không đạt mục tiêu đề ra và là năm có kết quả thấp nhất trong 3 năm trở lại đây.

 Đặc biệt các chỉ số thành phần của tỉnh chưa có sự ổn định, tốc độ cải thiện một số chỉ số có xu hướng chậm hơn so với một số địa phương ở top 15 tỉnh, thành dẫn đầu; những chính sách về cải cách, đổi mới có tác động mạnh đến doanh nghiệp và liên quan đến kết quả PCI còn hạn chế và chưa thật sự có đột phá.

 Theo bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2019 do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam công bố tháng 5 năm 2020, chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh có 13/24 chỉ tiêu bị giảm điểm. 

Trong đó, có nhiều chỉ tiêu bị giảm điểm khá sâu như tỷ lệ doanh nghiệp từng sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật giảm 17%; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tư nhân và FDI giảm 9%; doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin thị trường giảm 7%; doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại giảm 7%; doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ xúc tiến thương mại giảm 4%...

 Điều này cho thấy, chưa có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ được thụ hưởng các dịch vụ, chính sách hỗ trợ của tỉnh, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn chưa biết đến các dịch vụ, chính sách hỗ trợ này.

 Chia sẻ về nguyên nhân khiến chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh giảm điểm, ông Phạm Văn Tuyến, Phó Trưởng phụ trách Phòng Kế hoạch-Tài chính-Tổng hợp, Sở Công Thương cho biết với vai trò là cơ quan tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh thực hiện chỉ số này, hằng năm, Sở Công Thương phối hợp với các sở, ngành liên quan đẩy mạnh công tác hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận ưu đãi đầu tư; tích cực triển khai các hoạt động nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp và nhà đầu tư trong sản xuất kinh doanh.

 Đồng thời, thực hiện tốt các chương trình khởi sự doanh nghiệp; triển khai có hiệu quả các hoạt động tư vấn thực hiện các thủ tục hành chính; hỗ trợ doanh nghiệp trong kết nối thị trường, tiêu thụ sản phẩm, đào tạo nguồn nhân lực; tổ chức các hoạt động trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp.

 Năm 2019, Sở Công Thương đã đề nghị cắt giảm 154 ngày giải quyết 47 thủ tục hành chính với doanh nghiệp; chuẩn hóa 121 thủ tục hành chính đưa ra thực hiện tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh và cập nhật vào phần mềm trên Internet. (TTXVN/VietnamPlus.vn 15/7)Về đầu trang

Thanh Hóa đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử

Năm 2019, với sự ra đời của Nghị quyết số 17/NQ-CP, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ TT&TT cũng như yêu cầu của thực tiễn địa phương, tỉnh Thanh Hóa ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng Chính quyền điện tử (CQĐT) và là một trong những địa phương đầu tiên kết nối, tích hợp Cổng dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính (TTHC) mọi lúc, mọi nơi, tiết kiệm, công khai, minh bạch...

 Theo đó, với quyết tâm cao, sự vào cuộc quyết liệt của UBND, các cấp, các ngành trong toàn tỉnh, sự thống nhất điều hành của Ban Chỉ đạo xây dựng CQĐT tỉnh cũng như ở các địa phương đã tạo ra sự đồng bộ trong triển khai. Đến nay, sau một năm thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 7.3.2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, tỉnh Thanh Hóa đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt, hiệu quả.

 Cụ thế, 100% các sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh đã thường xuyên điều hành, xử lý công việc trên hệ thống phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc. Đã hoàn thành 37/42 nhiệm vụ được giao. Tỷ lệ văn bản điện tử gửi qua mạng của tỉnh đạt 96%, tỷ lệ văn bản ký số đạt 97%. Ước tiết kiệm được 28 tỉ đồng/năm cho việc chi phí thời gian in, gửi phát hành văn bản của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh, rút ngắn thời gian gửi văn bản từ tỉnh đến huyện, đến UBND cấp xã chỉ còn tính bằng giây. Cổng dịch vụ công tỉnh đã thực hiện công bố đầy đủ, kịp thời các thủ tục hành chính cho cả 3 cấp tỉnh - huyện - xã. Hoàn thành xây dựng nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu (LGSP), kết nối, liên thông LGSP của tỉnh với trục liên thông văn bản quốc gia phục vụ việc gửi, nhận văn bản liên thông 4 cấp chính quyền từ Trung ương đến cấp xã. Cổng dịch vụ công trực tuyến của tỉnh và Hệ thống một cửa điện tử tại tất cả UBND cấp huyện đã được đưa vào sử dụng, hệ thống một cửa điện tử tại 559/559 UBND cấp xã đã triển khai cài đặt xong và chính thức đưa vào sử dụng từ ngày 10.5.2020.

 Đầu tư máy chủ, trang thiết bị mạng để nâng cấp, mở rộng Trung tâm dữ liệu và điều hành an toàn, an ninh mạng của tỉnh, đảm bảo hạ tầng triển khai chính quyền điện tử. Hệ thống phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc (TD-Office) đã được đầu tư tại 100% các sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp huyện và 100% các xã, phường trên địa bàn tỉnh. Mạng truyền số liệu chuyên dùng được kết nối đến các sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp huyện để bảo đảm vận hành an toàn, đồng bộ. Ứng dụng chữ ký số được đẩy mạnh trong các cơ quan, đơn vị.

 Hệ thống phòng họp trực tuyến tại 215 điểm cầu (83 điểm cầu của khối các cơ quan cấp tỉnh, UBND cấp huyện; 132 điểm cầu của UBND cấp xã); hệ thống đăng nhập tập trung của tỉnh (https://dangnhap.thanhhoa.gov.vn) được đưa vào sử dụng, đảm bảo thuận tiện cho người sử dụng. Tỉnh cũng đã đưa vào vận hành hệ thống phản hồi Thanh Hóa (https:// phanhoi.thanhhoa.gov.vn/) để tiếp nhận, xử lý và trả lời phản ánh, kiến nghị của tổ chức, công dân khá hiệu quả.

 Trong năm 2020, trên cơ sở những kết quả đã đạt được trong năm 2019 về xây dựng CPĐT, Thanh Hóa sẽ ưu tiên nguồn lực, chỉ đạo quyết liệt để hoàn thiện các dự án hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin trong chương trình xây dựng Chính phủ điện tử. Thực hiện tốt các dự án hạ tầng đang triển khai nhằm đáp ứng các chỉ tiêu của Nghị quyết 17/NQ-CP của Chính phủ đề ra, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Phấn đấu 20% trở lên người dân và doanh nghiệp tham gia kết nối với Chính quyền điện tử. Hoàn thành 100% các chỉ tiêu dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 mà UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt và 50% dịch vụ công trực tuyến sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. (Baovanhoa.vn 16/7, Hà Dũng)Về đầu trang

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH

Tiền lương năm 2021 có giảm theo mức thắt chặt ngân sách?

Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2021, kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2021-2023.

 Theo đó, về dự toán chi thường xuyên, sẽ thực hiện giảm quỹ lương, chi bộ máy năm 2021 gắn với giảm biên chế hưởng lương từ ngân sách năm 2021 theo quyết định của cấp thẩm quyền hoặc theo Đề án tinh giản biên chế được duyệt (nếu có); giảm số hợp đồng lao động không đúng quy định trong các đơn vị sự nghiệp công lập (trừ những đơn vị đã bảo đảm tự chủ tài chính). Trường hợp chưa có quyết định của cấp thẩm quyền hoặc Đề án được duyệt, thì tinh giản bình quân 2,5% so với biên chế hưởng lương từ ngân sách năm 2020.

 Cùng với đó, giảm chi hỗ trợ từ ngân sách tối thiểu 2,5% gắn với mức giảm biên chế hưởng lương từ ngân sách và giảm thêm tối thiểu 5% - 10% so với dự toán năm 2020.

 Việc giảm quỹ lương, chi cho bộ máy trong năm 2021 khiến các cán bộ công chức – những người hưởng lương từ NSNN lo lắng liệu tiền lương năm 2021 có giảm theo mức thắt chặt ngân sách? Về vấn đề này, trao đổi với phóng viên VOV.VN, ông Võ Thành Hưng, Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính khẳng định, việc giảm quỹ lương, chi bộ máy năm 2021 gắn với giảm biên chế hưởng lương từ ngân sách không ảnh hưởng gì tới quỹ lương năm 2021.

 "Trong Nghị quyết 18 (Nghị quyết 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả - PV) có yêu cầu giảm biên chế 10% trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2021, mỗi năm giảm khoảng 2-2,5% biên chế thì số biên chế khi giảm sẽ tinh giảm quỹ lương của 2,5% biên chế đó và giảm chi thường xuyên để phục vụ cho hoạt động của 2,5% biên chế đấy chứ không phải là giảm quỹ lương của cả bộ máy còn lại", ông Võ Thành Hưng cho hay.

 Theo đại diện Vụ Ngân sách nhà nước, phần giảm quỹ lương trong dự toán ngân sách nhà nước năm 2021 là của số giảm biên chế và việc giảm đó cũng là điều kiện để có thể tăng lương cho số cán bộ công chức còn lại.

 "Hiện chưa có con số cụ thể phần chi cho quỹ lương của năm 2021 mà trên có sở định hướng Bộ Tài chính đưa ra, các Bộ, ngành và địa phương báo cáo lên thì chúng tôi sẽ tổng hợp", ông Hưng cho biết thêm.

 Trước đó, báo cáo về công tác tài chính – ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước 6 tháng cuối năm 2020, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, do ảnh hưởng của dịch bệnh, giá dầu thô thế giới giảm sâu, kết hợp với việc thực hiện các chính sách ưu đãi về thuế, phí và các khoản thu khác, nên thu NSNN những tháng đầu năm có xu hướng giảm.

 Tính đến hết tháng 6/2020, tổng thu NSNN ước đạt 668.700 tỷ đồng, bằng 44,2% dự toán, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm 2019, thấp nhất kể từ năm 2013. Trong đó, thu ngân sách trung ương ước đạt 41,8% dự toán (cùng kỳ năm 2019 đạt 51,7%); thu ngân sách địa phương đạt 47,4% dự toán (cùng kỳ năm 2019 đạt 54,6%).

 Để giảm bớt tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người dân, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ, Quốc hội yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương và địa phương chủ động điều hành chi NSNN chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, bố trí trong dự toán được giao để thực hiện các nhiệm vụ chi quan trọng.

 Đồng thời, rà soát để cắt giảm tối thiểu 70% kinh phí hội nghị, công tác phí trong và ngoài nước và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên khác còn lại của năm 2020, đặc biệt là các khoản chi mua sắm chưa thực sự cần thiết. Đồng thời, chưa thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và lương hưu từ ngày 1/7. (VTV.vn 16/7)Về đầu trang

Sẽ có chế tài đối với cán bộ chậm thực hiện giải ngân vốn đầu tư công

Trước tình trạng giải ngân vốn đầu tư công ì ạch, chậm trễ, Thủ tướng khẳng định, sẽ đưa ra chế tài về thi đua khen thưởng, đánh giá cán bộ, không để tình trạng “biết rồi nói mãi, cứ để năm này sang năm khác như thế”.

 Sáng 16/7, chủ trì hội nghị giao ban trực tuyến giữa Thường trực Chính phủ với các địa phương trên toàn quốc về công tác giải ngân vốn đầu tư công, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng thấp là các dòng vốn đầu tư, kể cả đầu tư xã hội và đầu tư Nhà nước, đều chậm, thấp so với nhiệm vụ kế hoạch. Vì thế, đầu tư công là một trong các cứu cánh quan trọng để vượt qua khó khăn.

 Nhắc lại tính toán của Tổng cục Thống kê, cứ 1% đầu tư thì sẽ góp phần tăng GDP 0,06%, Thủ tướng cho rằng phải tập trung giải ngân số vốn gần 28 tỷ USD, tương đương với 633.000 tỷ đồng.

 “Mỗi khi làm việc ở địa phương, làm việc với các bộ, ngành, thì các đồng chí đều đề cập là xin nguồn vốn của Nhà nước để đầu tư phát triển. Song khi nhận vốn rồi thì không tổ chức thực hiện đến nơi đến chốn. Điều đó diễn ra nhiều năm, nhiều thập kỷ, nhất là những năm gần đây tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công rất thấp”, Thủ tướng nói.

 Cho biết, tỷ lệ giải ngân đến nay mới đạt trên 20%, Thủ tướng đề nghị các đại biểu tham dự cuộc họp tìm ra nguyên nhân khách quan, chủ quan, chậm chạp, ì ạch, kém cỏi của giải ngân vốn đầu tư công, kể cả vốn ODA. 

“Phải tìm cho ra được nguyên nhân chủ quan là chính chứ không phải đổ cho khách quan”, Thủ tướng nói và cho hay, tại sao cùng cơ chế chính sách mà có địa phương giải ngân rất tốt, còn nhiều địa phương rất ì ạch”. Phải chăng do bệnh quan liêu, không chịu đi sát, không giải quyết công việc đặt ra?

 “Anh đi tìm nguồn lực nơi này nơi khác nhưng mà để lại một đống tiền ngay trên địa bàn của anh, anh không chịu giải quyết. Tại sao? Anh cứ đổ nguyên nhân khách quan này khách quan khác”, Thủ tướng nói và khẳng định sẽ đưa ra chế tài về thi đua khen thưởng, cũng như trong đánh giá cán bộ.

 Tại hội nghị, Thủ tướng đọc tên 10 địa phương giải ngân tốt (đạt từ 45% trở lên): Nghệ An, Thái Bình, Hưng Yên, Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Nam, Lào Cai, Tiền Giang. Thủ tướng cũng nêu tên một số địa phương giải ngân rất chậm (dưới 20%): Quảng Trị, Trà Vinh, Khánh Hòa, Hòa Bình, Thái Nguyên, Cần Thơ, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Đồng Nai. “Tại sao có tỉnh làm tốt, có tỉnh trì trệ là câu hỏi đặt ra cho các đồng chí”, Thủ tướng nhấn mạnh. (Tienphong.vn 16/7)Về đầu trang

Không sử dụng hạn mức bảo lãnh Chính phủ trong 6 tháng đầu năm 2020

Trong 6 tháng đầu năm 2020, các chương trình, dự án và ngân hàng chính sách sử dụng vốn vay được Chính phủ bảo lãnh đều không sử dụng hạn mức bảo lãnh cho năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt.

 Báo cáo của Bộ Tài chính cho biết, về bảo lãnh Chính phủ cho các dự án vay nước ngoài, trong 6 tháng đầu năm không cấp mới bảo lãnh cho dự án vay vốn nước ngoài. Tổng rút vốn nước ngoài 6 tháng đầu năm đạt khoảng 4.207,4 tỷ đồng, trả nợ gốc và lãi khoảng 21.630,4 tỷ đồng, trong đó trả gốc là 17.214,3 tỷ đồng, trả lãi và phí là 4.416,2 tỷ đồng.

 Trong khi đó, đối với bảo lãnh Chính phủ cho các dự án vay trong nước, trong 6 tháng đầu năm 2020 không cấp mới bảo lãnh vay trong nước. Các dự án được cấp bảo lãnh trước đây không thực hiện rút vốn, tổng trả nợ là 907,7 tỷ đồng (trong đó trả nợ gốc khoảng 311,5 tỷ đồng, trả nợ lãi khoảng 596,2 tỷ đồng).

 Ngân hàng Chính sách xã hội cũng cho biết, trong 6 tháng đầu năm, Ngân hàng này không thực hiện phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. Trong khi đó, tổng trả nợ 6 tháng đầu năm là 3.190 tỷ đồng (trả gốc: 2.325 tỷ đồng, trả lãi: 865 tỷ đồng), dư nợ cuối kì của trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh khoảng 37.006 tỷ đồng.

 Trong 6 tháng đầu năm, Ngân hàng Phát triển cũng không thực hiện phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. Tổng trả nợ nửa năm của Ngân hàng này là 18.666 tỷ đồng (trả gốc: 15.222 tỷ đồng, trả lãi: 3.444 tỷ đồng), dư nợ của trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là 92.303 tỷ đồng.

 Như vậy, trong 6 tháng đầu năm 2020, các chương trình, dự án và ngân hàng chính sách sử dụng vốn vay được Chính phủ bảo lãnh không sử dụng hạn mức bảo lãnh cho năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt.

 Thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, trong 6 tháng đầu năm (tính đến 10/6/2020), ước thực hiện dư nợ bảo lãnh chính phủ đạt khoảng 372.291 tỷ đồng, giảm 7,4% so với dư nợ đầu năm. Trong đó, nợ trong nước khoảng 167.970 tỷ đồng, giảm 10,4% và nợ nước ngoài khoảng 217.921,9 tỷ đồng, giảm 5,1%.

 Được biết, nhằm hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới theo chủ trương của Bộ Chính trị, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ phê duyệt hạn mức bảo lãnh Chính phủ năm 2020 tại Nghị quyết số 40/NQ-CP ngày 8/4/2020 của Chính phủ về hạn mức bảo lãnh Chính phủ và hạn mức vay về cho vay lại năm 2020.

 Cụ thể, đối với các dự án vay vốn trong và ngoài nước, số rút vốn trong năm 2020 không vượt quá số trả nợ gốc trong năm. Đồng thời, mức bảo lãnh phát hành tối đa đối với hai ngân hàng chính sách năm 2020 gồm Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội bằng mức trả nợ gốc đến hạn trong năm. Cụ thể, Ngân hàng Phát triển Việt Nam tối đa là 27.062 tỷ đồng và Ngân hàng Chính sách Xã hội tối đa là 4.375 tỷ đồng. (Tapchitaichinh.vn 16/7)Về đầu trang

SAI PHẠM ĐIỂN HÌNH

Khởi tố vụ án liên quan đến lái xe riêng của Chủ tịch UBND Hà Nội

“Cơ quan An ninh điều tra thực hiện điều tra vụ án theo đúng trình tự pháp luật. Hiện vụ án đang tiếp tục được điều tra, làm rõ”, Thiếu tướng Tô Ân Xô nêu rõ.

 Liên quan đến việc khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của ba đối tượng về hành vi "chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước", Thiếu tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, Người Phát ngôn Bộ Công an cho biết: Ngày 16/7, Cơ quan An ninh điều tra (A09) Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án "chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước" được quy định tại Điều 337, Bộ luật Hình sự năm 2015.

 Trước đó, ngày 13/7/2020, Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an đã thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc đối với:

 Nguyễn Anh Ngọc (sinh năm 1974, trú tại phường Bồ Đề, quận Long Biên, đang công tác tại Phòng Thư ký biên tập, tổ giúp việc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội);

 Nguyễn Hoàng Trung (sinh năm 1983, trú tại phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, là lái xe của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội);

 Phạm Quang Dũng (sinh năm 1983, trú tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội, nguyên cán bộ của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03), Bộ Công an. (VTV.vn 16/7)Về đầu trang

Phó giám đốc văn phòng đăng ký đất đai bị bắt

Ông Lê Văn Trứ, 36 tuổi, Phó giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai quận Bình Thủy bị cáo buộc liên quan đến sai phạm nghiêm trọng trong quản lý đất.

 Ngày 16/7, ông Trứ bị khởi tố, bắt tạm giam để làm rõ việc Vi phạm các quy định về quản lý đất đai, theo Điều 229 Bộ luật Hình sự. Khám xét nhà cán bộ này, cơ quan chức năng thu giữ nhiều tài liệu liên quan.

 Trước đó, Thanh tra TP Cần Thơ kết luận quận Bình Thủy có hàng loạt sai phạm nghiêm trọng như: không tuân thủ các quy định, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý dẫn đến điều chỉnh loại đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tách thửa sai luật; để xảy ra việc chia lô, bán nền, xây dựng nhà không phép, lấn chiếm đất công... hình thành hàng loạt khu dân cư tự phát có hạ tầng thấp kém.

 Cơ quan thanh tra xác định có dấu hiệu hình thành đường dây thực hiện các thủ tục đất đai với diện tích lớn, trái quy hoạch và quy định của pháp luật nên chuyển cơ quan điều tra.

 UBND quận Bình Thủy sau đó xử lý cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương 12 cán bộ. UBND TP Cần Thơ cũng cảnh cáo Chủ tịch và Phó chủ tịch UBND quận Bình Thủy là Lê Tâm Niệm và Nguyễn Văn Tuấn - hai người trực tiếp ký văn bản liên quan đến các sai phạm trong thời gian dài. Tháng 10/2019, ông Niệm bị điều động về Sở Nội vụ Cần Thơ còn ông Tuấn về Ban Tổ chức quận Bình Thủy.

 Liên quan đến các sai phạm này, cuối năm 2019, công an bắt tạm giam Lê Văn Vũ, Phó phòng Tài nguyên - Môi trường quận Bình Thủy, cùng 3 cấp dưới là Huỳnh Trung Thanh, Lê Hồng Khánh và Trần Tuấn Anh.

 TP Cần Thơ hiện có 148 khu dân cư trái phép ở các quận Bình Thủy, Ninh Kiều, Cái Răng với diện tích gần 95 ha. (Vnexpress.net 16/7, Cửu Long)Về đầu trang

THẾ GIỚI

Thái Lan cải cách thủ tục gia hạn giấy phép lao động cho người nước ngoài

Ngày 14/7, Chính phủ Thái Lan thông báo quy định cho phép người nước ngoài nộp đơn xin gia hạn giấy phép lao động qua hình thức trực tuyến nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19.

 Theo thông báo của Cục Việc làm thuộc Bộ Lao động Thái Lan, từ ngày 13/7, lao động nước ngoài đến từ Myanmar, Campuchia và Lào có giấy phép lao động hết hiệu lực từ ngày 31/3 vừa qua có thể làm thủ tục xin gia hạn bằng hình thức trực tuyến.

Sau khi nộp đơn trực tuyến, người lao động có thể đến bất kỳ cơ quan hành chính địa phương nào để nhận thẻ căn cước dành cho những người không phải là công dân Thái Lan kèm giấy phép lao động.

 Cục Việc làm sẽ thông báo ngày giờ cụ thể để người lao động đến nhận thẻ căn cước để tránh tình trạng tập trung đông người. Tuy nhiên, đối với hồ sơ xin thị thực, người lao động nước ngoài vẫn cần trình giấy khám sức khỏe do các bệnh viện ở Thái Lan cấp. (TTXVN/Baotintuc.vn 15/7)Về đầu trang

Quan chức Anh bị phát hiện đã đánh mất hàng trăm thiết bị điện tử mỗi năm

Các số liệu mới được công bố theo luật Tự do Thông tin (FOI) cho thấy có hàng trăm thiết bị thông minh như smartphone, máy tính bảng, máy tính xách tay... của quan chức chính phủ Anh đã mất tích trong vòng 18 tháng qua. 

Điều này cũng đồng nghĩa với việc các dữ liệu nhạy cảm của chính phủ nước này có thể đã rơi vào tay tội phạm, khiến công việc bảo vệ dữ liệu mật trở nên vô cùng mong manh và đầy nguy hiểm.

 Báo cáo cho thấy trong năm đầu tiên khảo sát 2018, khoảng 89 thiết bị điện tử đã bị đánh cắp. Và con số này tăng gần gấp đôi lên 163 vào năm 2019. Và bất chấp tình trạng cách ly xã hội cũng như chuyển các hoạt động sang làm việc từ xa, hơn 64 thiết bị vẫn bị mất trong năm 2020 này.

 Đáng chú ý, các thiết bị này bị đánh mất ở cả một số cơ quan và văn phòng chính phủ trung ương, bao gồm Văn phòng Thủ tướng, Hội đồng Cơ mật, Trụ sở bình đẳng giới và văn phòng của các nhà lãnh đạo tại Hạ viện và Thượng viện. Trong khi đó, các hội trường của chính phủ Anh dường như cũng là một điểm nóng của sự nhầm lẫn thiết bị, với một số sự cố đáng chú ý đã xảy ra trong vài năm gần đây.

 Năm 2007, chính phủ nước này cho biết họ đã đánh mất dữ liệu của 25 triệu người sau khi một chiếc đĩa máy tính biến mất. Và vào năm 2017, một thanh USB có chứa nhiều chi tiết về bảo mật của Nữ hoàng và hệ thống bảo vệ của sân bay quốc tế London Heathrow đã được tìm thấy bởi một người dân bình thường, sau khi thất lạc.

 "Với một lực lượng lao động ngày càng giãn cách do sự bùng phát Covid-19, điều hoàn toàn cần thiết là các cơ quan chính phủ phải thực hiện các bước cần thiết để đảm bảo tất cả các thiết bị được bảo mật chính xác", ông Stav Pischits, CEO của Cynance, một công ty cung cấp dịch vụ bảo vệ máy tính ở Anh lưu ý.

 "Mặc dù các thiết bị này đã được mã hóa, tin tặc vẫn có thể tìm ra những cách mới để vượt qua các hệ thống để truy cập các tệp bí mật, có thể 'gây thiết hại chết người'. Vì vậy, đảm bảo các biện pháp mã hóa và bảo mật mạng mạnh mẽ mọi lúc là điều cần thiết", chuyên gia này chia sẻ thêm. (Saha.vn 16/7)Về đầu trang./.

SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

 

[Trở về]